User Tools

Site Tools


0182-t-ng-phan-la-gi

Tống Phan là một xã thuộc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam.

Xã Tống Phan có diện tích 7,79 km², dân số năm 1999 là 7318 người,[1] mật độ dân số đạt 939 người/km².

Tống Phan là một xã nằm ở phía đông bắc huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên- là một vùng đất được hình thành từ rất sớm do các cộng đồng dân cư chung sức tạo nên. Phía tây giáp xã Đình Cao, phía nam giáp xã Nhật Quang, phía đông giáp xã Quang Hưng và phía bắc giáp thị trấn Trần Cao. Xã có diện tích tự nhiên gồm 777, 86 ha, trong đó diện tích đất canh tác là 492, 32 ha, diện tích đất thổ cư gồm 73,83 ha. Xã gồm 5 thôn: Hạ Cát, Cát Dương, Phan Xá, Tống Xá và Vũ Xá. Riêng thôn Vũ Xá mới hình thành vào khoảng năm 1920, lúc đầu gọi là Trại Mụa do ông cụ Chánh Cúc (họ Hoàng) lập lên. Nhà cụ Chánh Cúc có nhiều ruộng, mà số ruộng khu Trại Mụa thuộc loại xấu, hàng năm chỉ cấy có 1 vụ mùa, năng suất thấp. Cụ đem dâng hiến cho bên Đạo Cao Xá khoảng 20 mẫu. Lúc đó cha Thập, cha Thông ở nhà thờ Cao Xá chiêu dụ ai đến đây lập nghiệp, là dân đạo thì mỗi hộ được chia 3 sào ruộng để sản xuất. Nghe tin trên, một số dân nghèo ở Hà, Thái Bình đến đây lập nghiệp. Khi đã có dân các nơi đến lập trại, bên Giáo đầu tư xây nhà thờ để dân đi chầu lễ. Đến năm 1935 việc xây nhà thờ hoàn thành. Trước Cách mạng tháng 8-1945, Vũ Xá Trại gồm 35 hộ với 146 nhân khẩu. Tất cả đều là công giáo toàn tòng.

Trước năm 1945, các thôn trong xã được phân chia trong hai khu vực: thôn Hạ Cát, Cát Dương thuộc Tổng Cát Dương; thôn Phan Xá, Tống Xá, Vũ Xá thuộc Tổng Viên Quang. Tháng 3 năm 1946, sau khi khởi nghĩa giành chính quyền, xã hợp nhất lại và lấy tên là xã Minh Khai; năm 1949 đổi thành xã Quyết Tiến; đến năm 1973 đổi thành xã Tống Phan.

Là xã có hệ thống giao thông tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế, lưu thông hàng hóa, buôn bán của nhân dân. Phía Bắc của xã giáp đường 39B là tuyến giao thông chính từ Hưng Yên đi Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh. Phía tây nam giáp đường 202, là trục giao thông chính chạy dọc từ phía bắc huyện, qua trung tâm thị trấn nối với các xã phía nam, qua bến phà La Tiến sang tỉnh Thái Bình. Trong xã có đường trục chính nối từ đường 202 chạy dọc qua các thôn đến đường 39B tạo thành hệ thống giao thông hoàn chỉnh.

Hệ thống sông ngòi của xã tương đối dày đặc. Phía đông có sông Cửu An chạy qua. Đây là con sông ngăn cách địa phận giữa hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. Thời kỳ chống Pháp, con sông này là gianh giới giữa hai vùng kháng chiến và tự do. Vùng tự do Chi Lăng (Thanh Miện) là hậu phương vững chắc, là chỗ dựa an toàn cho lực lượng kháng chiến  của xã Tống Phan và huyện Phù Cừ trong thời kỳ địch về lập đồn, xây bốt.

Về sản xuất nông nghiệp, sông Cửu An là chỗ chứa nước để nhân dân địa phương tiêu úng, chống hạn. Phía tây nam xã có con sông nhỏ từ nhánh sông Hòa Bình chảy xuôi trạm bơm La Tiến ra sông Luộc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Từ ngày hòa bình lập lại, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, nhân dân trong xã tập trung đào sông, khơi ngòi, mở rộng hệ thống mương máng khắp các cánh đồng, phục vụ cho việc tưới tiêu. Thôn nào cũng có trạm bơm điện. Hệ thống sông ngòi quanh xã tạo nên dưới thành sông, trên là đường giao thông. Tổng chiều dài đường giao thông quanh xã, thôn, xóm lên tới gần 30 km, hầu hết đã được làm bằng vật liệu cứng. Việc giao thông đi lại rất thuận tiện. Từ xã xuôi theo đường 202 qua phà La Tiến đi Thái Bình, Nam Định. Đường liên xã nối với đường 39B đi Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên và Hà Nội... Chính vì thuận lợi về mặt giao thông đã góp phần xây dựng nông thôn mới, thuận tiện cho việc giao lưu của xã với các địa phương trong và ngoài tỉnh.

Diện tích đất canh tác của xã gồm 492, 32 ha, chủ yếu là cấy 2 vụ lúa và trồng vụ đông với một số cây rau màu chủ yếu. Ngành chăn nuôi của xã tương đối phát triển, cùng với ngành trồng trọt là nguồn thu nhập chính của nhân dân. Chăn nuôi đàn gia súc, chủ yếu là trâu, bò; đàn gia cầm là gà, vịt... Đặc biệt những năm gần đây, đàn gà công nghiệp được người dân trong xã đưa vào chăn nuôi với quy mô lớn và đang trở thành ngành chăn nuôi chính.

Sự hình thành đất đai xã Tống Phan gắn liền với sự hình thành châu thổ Bắc Bộ. Nó nằm trong cái nôi vùng châu thổ và cũng là trung tâm của nền văn minh sông Hồng. Nghề trồng lúa của nước ta ra đời ở vùng châu thổ này.

Ngày nay các dòng họ lớn ở Tống Phan như họ Trần, họ Bùi, họ Lê, họ Nguyễn, họ Vũ... là những dòng họ đã trụ lại trên mảnh đất này từ  lâu. Suốt thế hệ này qua thế hệ khác, từ đôi bàn tay của mình, người dân Tống Phan đã khai phá, tạo dựng nên ruộng vườn, trang trại, làng mạc; tổ chức nên cuộc sống có tình nghĩa trong họ, ngoài làng, có nhiều phong tục tập quán chung ở vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ.

Năm 1945, dân số của xã là 3.880 người; năm 1960 gồm 5.500 người; năm 1970 gồm 6000 người; năm 1980 gồm 6.500 người; đến năm 2005 dân số của xã lên tới 7.450 người, với 2011 hộ. Nhân dân trong xã có tới 97% theo đạo phật, chỉ có 15 hộ gia đình (chiếm 3%) theo đạo Thiên chúa giáo.

Tổ tiên các dòng họ trong xã chủ yếu làm nghề nông, cấy lúa nước là chính. Thời kỳ sau hòa bình lập lại, làng Phan Xá có nghề thợ xẻ, làng Tống Xá có nghề thợ xẻ làm mộc và đục trạm; vào dịp nhàn rỗi, thanh niên trong làng thường đi các nơi kiếm sống bằng nghề này. Ngoài ra nhân dân trong xã còn còn có nghề phụ như: mộc, nề, rèn, xay xát, chế biến lương thực, thực phẩm... Hiện nay xã đang tập trung phát triển nghề mộc và là một trong những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có thế mạnh ở địa phương.

Ruộng đất của xã Tống Phan chiếm trên 50% là đồng trũng. Độ trũng nhất thuộc 2 thôn Phan Xá và Tống Xá, hàng năm thường xảy ra lũ lụt. Trước đây nhiều khu đất còn để hoang hóa, cấy một vụ, năng suất lúa bình quân loại ruộng tốt cũng chỉ đạt 40–50 kg/ 1 sào Bắc Bộ. So với các xã phía nam của huyện, thì Tống Phan vẫn là xã có cốt đất cao hơn, nên khi lũ lụt, mùa màng chỉ thất bát, năng suất thấp. Vì vậy Tống Phan vẫn được coi là nơi nhiều ruộng, lắm thóc. Không những thế, địa phương còn cấy được các loại giống lúa quý như tám thơm, dự lùn, nếp cái hoa vàng... mà chất lượng so với các giống lúa hiện nay, chưa giống nào sánh kịp.

Từ xa xưa, mảnh đất Tống Phan đã được thiên nhiên ưu đãi. Nhân dân lại cần cù chịu khó lam lũ làm ăn, nhưng chính sách bóc lột hà khắc của bọn vua quan phong kiến và đế quốc xâm lược đã trở thành nguyên nhân chủ yếu làm cho nhân dân ta khổ cực lầm than, đời sống vật chất và tinh thần thiếu thốn.

Sau khí chiếm Việt, thực dân Pháp xâm lược vẫn giữ nguyên bộ máy vua quan phong kiến cũ làm tay sai. Mọi việc bắt phu, bắt lính, thu thuế... đều do quan lại người Việt thi hành, còn người Pháp chỉ kiểm soát, đôn đốc theo chính sách luật lệ chúng đặt ra. Bộ máy hành chính ở Hưng Yên thời pháp thuộc có: Tỉnh, huyện, Tổng và xã (làng). Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở. Mỗi xã có một lý trưởng đứng đầu và hình thành bộ máy khá quy mô, trong đó có bốn người giúp việc là: phó lý, trưởng bạ, hộ lại, trương tuần. Trong xã còn có chức tiên, thứ chỉ là người có vai vế, quyền thế trong làng. Ngoài ra còn có từ 5 đến 7 tuần đinh để trông coi làng xóm, ruộng vườn và đôn đốc sưu thuế....

Sự phân hóa giàu nghèo ở xã Tống Phan cũng như ở các địa phương do nhiều nguyên nhân. Song đại bộ phận nông dân thường bị giai cấp thống trị dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt cướp đoạt qua mỗi kỳ sưu thuế, tô tức, lao dịch và hủ tục hà khắc ở nông thôn. Số địa chủ trong huyện và xã ít nhưng cũng chiếm 60% ruộng đất canh tác; số phú nông và trung nông chiếm 27%, còn 3% là ruộng bán công, bán tư của phe giáp, ruộng công điền và của một số người có chút ít ruộng đất[1]. Trước năm 1945, diện tích đất canh tác của xã là 1.896 mẫu, trong đó bọn địa chủ cường hào của địa phương và các nơi khác đến chiếm 1.677 mẫu, người nông dân chỉ còn 219 mẫu. Trước năm 1945, trong xã có 10 địa chủ (thôn Cát Dương 5; Phan- Tống- Vũ 3, Hạ Cát 2). Địa chủ có nhiều ruộng đất nhất là 20 mẫu.

Như vậy, nông nghiệp là nền tảng đời sống kinh tế- xã hội của nhân dân địa phương, trong đó ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, là nguồn vui, là sự sống còn trong mỗi gia đình nông dân nhưng lại bị tước đoạt dưới nhiều hình thức, làm cho nỗi cực khổ ngày thêm chồng chất.

Về sưu thuế, đối với nam từ 18 tuổi trở lên phải đóng thuế thân cho chúng thì mới được phát thẻ. Có hai loại thẻ là thẻ đỏ và thẻ xanh, nếu thẻ đỏ phải nộp 3,5 đồng tiền Đông Dương, thẻ xanh phải nộp 2,5 đồng (tương đương 2 tạ thóc). Nhiều gia đình không có tiền phải trốn thuế, bọn lý trưởng sai tuần tráng đến bắt vợ, con hoặc bố mẹ về cùm trói, khi nào chạy được tiền nộp mới thả. Chúng còn bắt thanh niên đi phu, đi lính cho thực dân Pháp và đi đồn điền cao su. Cả xã có tới 1.049 xuất đinh phải đóng thuế hàng năm.

Những ngày thu thuế mõ rao, trống thúc liên hồi, trương tuần, phu tuần đi từng nhà giục giã; lính lệ và quản trú trên huyện cũng về làng đôn đốc. Nhiều người vì nghèo đói không đủ tiền nộp sưu, nộp thuế đã bị chỳng trói đánh bầm da tím thịt. Vợ thương chồng lại phải bán cả nhà cửa đất cát, gia sản để nộp. Bọn hương lý chẳng những được lợi nhuận trong việc phu thu lạm bổ, mà còn khai man số đinh, số điền, bày ra việc này, việc nọ, duy trì việc cúng lễ, ăn uống linh đình trong ma chay, cưới xin, khao vọng để vơ vét thêm. Cá nhân thì làm việc nào ăn việc nấy. Người sinh, người chết đều mất tiền biện lễ cho thư ký hộ tịch. Bán ruộng đất, nhà cửa, cầm đồ đạc... cũng phải mất tiền.

Trong khi đó, người dân trong xã phần lớn sống trong cảnh nghèo đói. Đồ dùng trong nhà phổ biến là giường tre, chõng tre, mâm gỗ, nồi đất, bát đàn. Mùa hè không có màn chống muỗi; mùa đông không có chăn bông, áo ấm. Đi làm thuê cấy mướn cho địa chủ thì ngày công rẻ mạt. Người ở lực điền theo trâu suốt vụ cầy cấy chỉ được một bộ quần áo vải thô nhuộm nâu và một tạ thóc, bán đi không đủ đóng một suất sưu. Nhiều gia đình không nuôi nổi con. Chín, mười tuổi đã phải đi ở bế con hoặc chăn trâu cắt cỏ cho địa chủ kiếm miếng cơm, manh áo. Các bà, các chị đi cấy thuê cúi còng lưng suốt ngày cũng chỉ được 2 bát gạo. Nhận cấy tô cho địa chủ phải nộp 40 kg thóc 1 sào. Vì thế hết vụ hết thóc; vay ăn lãi 1 tháng thành 2. Vay tiền lãi 10 phân 1 tháng. Mà đã mắc nợ thì suốt đời phải làm thuê cấy mướn, đầu tắt mặt tối, cực khổ lầm than.

Ngoài ra bọn địa chủ, cường hào còn áp đặt các hủ tục lạc hậu bắt nhân dân phải thực hiện như: mỗi giáp có 5-6 sào ruộng, lần lượt từng gia đình luân phiên nhau cấy. Gia đình nào cấy, đến tháng 3 phải làm con lợn 50– 60 kg và thổi một thúng xôi khoảng 20 kg rước ra đình tế lễ; sau đó chia phần theo chức danh từ trên xuống dưới; Tháng 8 phải nấu một mâm chè kho và 1 mâm oản rước ra đình tế lễ sau chia phần. Hậu quả, nhiều gia đình nghèo không có tiền sắm lễ phải đi vay nợ lãi, sinh ra nghèo đói. Bọn cường hào địa chủ thấy một số gia đình trong làng có bát ăn, bát để chúng tìm cách vận động gây áp lực để bỏ tiền mua một số chức danh trong làng từ cao đến thấp, để khi ra đình có góc chiếu ngồi, được hội họp, không phải đi phu, đi tuần canh gác nữa.

Về giáo dục, cả huyện Phù Cừ chỉ có một trường kiếm bộ Tiểu học đặt ở huyện lỵ (Đình Cao) nhưng chỉ dạy đến cấp I, chủ yếu phục vụ con nhà giàu có. Ngoài ra mỗi Tổng có một trường Tổng sư có vài lớp học, chỉ dạy đến sơ học yếu lược, nếu muốn học đến Séc- Ti- Phi- Ca (tương đương cấp II) thì phải vào Hưng Yên mới có trường. Tổng Cát Dương lúc đó có 1 trường Tổng sư nhưng lại đặt ở xã Nhật Lệ (cũng chỉ dành cho con nhà giàu). Chính vì vậy dẫn tới 95% dân số xã Tống Phan mù chữ. Cả xã chỉ có tám người  đỗ Séc- Ti- Phi- Ca[2].

Việc giáo dục bấy giờ chỉ là học theo kiểu truyền khẩu, nhồi nhét, thụ động. Vì ý đồ của thực dân Pháp là kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt để chúng dễ bề cai trị và bóc lột.

Về y tế, cả huyện chỉ có một phòng khám bệnh đặt ở chợ Từa, đứng đầu phòng khám chỉ có y tá, không có bác sĩ. Mục đích chủ yếu là phục vụ quan lại phong kiến và những gia đình giàu có. Còn người dân, vì cảnh đói nghèo đã sinh ra nhiều bệnh tật. Bệnh chân đơn, bệnh đau mắt hột là phổ biến. Nhiều trẻ sơ sinh chết vì nhiễm trùng, uốn ván, dịch tả, sởi đậu.... Sức cùng, thế kiệt, người mắc bệnh chỉ còn biết tin vào bói toán và cúng lễ.

Dưới chế độ thực dân, phong kiến, mọi hủ tục, tệ nạn xã hội cũ được duy trì phát triển và du nhập thêm những thói hư tật xấu của thực dân, phát xít, làm sói mòn, bóp méo truyền thống đạo lý dân tộc. Tệ nạn đánh cờ bạc công khai, sát phạt nhau diễn ra hàng ngày. Làng nào cũng có người nghiện thuốc phiện, rượu chè bê tha. Tục lệ ma chay, cưới xin, khao vọng cũng là cái nạn mà nhiều người không tránh được. Phụ nữ không được tham dự việc làng, việc nước, không được chia ruộng công, không được hưởng thừa tự, không được yêu sách tự do. Chế độ phong kiến đã trói buộc người phụ nữ phải chịu trăm cay, nghìn đắng. Người không có con trai ghép vào tội “đại bất hiếu”; vì thế “trai năm thê bảy thiếp” là lẽ thường tình.

Những hủ tục lạc hậu đó được chế độ phong kiến, thực dân duy trì như một công cụ thể áp bức bóc lột và nô dịch nhân dân lao động, làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt. Trong đó, mâu thuẫn có tính bao trùm là mâu thuẫn cả dân tộc ta phải đối mặt với thực dân Pháp. Vì vậy, nhân dân luôn ủng hộ các sĩ phu yêu nước chống lại quân xâm lược.

Phát huy truyền thống yêu nước từ ngàn xưa, nhân dân Tống Phan cùng nhân dân Phù Cừ và các địa phương khác gia nhập nghĩa quân Bãi Sậy ngày một đông. Những làng quê trong huyện, trong đó có Cát Dương còn lưu truyền nhiều tích chuyện trong nhân dân ủng hộ quân lương, sát cánh cùng nghĩa quân Bãi Sậy do cụ Nguyễn Thiện Thuật đứng đầu, tiêu diệt quân xâm lược. Những giai đoạn tiếp sau, nhân dân trong xã còn tự đứng lên chống lại sự hà khắc của chế độ thực dân phong kiến, chống lại sự áp bức bóc lột, bất công. Trước cách mạng tháng 8- 1945, ở thôn Phan Xá có phong trào cải lương, được thanh niên hăng hái tham gia.

Cùng với lịch sử chống ngoại xâm, giá trị tư tưởng văn hóa của địa phương còn lưu lại trong 7 ngôi chùa, 6 miếu thờ, 5 ngôi đình và 1 nhà thờ.

Trong 7 ngôi chùa, thì chùa thôn Phan Xá và chùa thôn Hạ Cát còn nguyên hiện trạng. Riêng thôn Tống Xá có 2 chùa (chùa trong và chùa ngoài). Chùa trong đã bị thực dân Pháp đốt năm 1953, chùa ngoài hiện bị dột nát. Thôn Cát Dương có 2 chùa (chùa xóm Xối và chùa xóm Nguyễn) và thôn Vũ Xá có một chùa. Bảy ngôi chùa trong xã đều thờ phật Thích Ca Mầu Ni, ngoài ra còn thờ phật Bà Quan âm, thờ Mẫu, Bồ Tát... là nơi khuyên răn con người hướng thiện.

Cả xã có 6 miếu thờ, các thôn Hạ Cát, Tống Xá, Phan Xá, Vũ Xá mỗi thôn có một miếu thờ. Riêng thôn Cát Dương có 2 miếu thờ. Các miếu thờ trên, dân làng đều thờ Quan bản thổ.

Toàn xã có 5 ngôi đình nằm ở 5 thôn: Hạ Cát, Cát Dương, Phan Xá, Tống Xá và Vũ Xá. Riêng Đình- Chùa- Phủ Phan Xá được Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên ra quyết định công nhận là “Cụm di tích kiến trúc nghệ thuật” (tháng 12-2008). Cụm di tích được khởi dựng từ sớm nên trải qua thời gian và những biến động lịch sử, di tích đã nhiều lần được tu sửa tôn tạo. Dấu ấn kiến trúc của đình còn lại từ niên hiệu Thành Thái (1897). Năm 1941 đình được trùng tu lớn. Đình Phan Xá là nơi tôn thờ ông Nguyễn Thái Bạt; ông đã từng đỗ bảng nhãn, giữ chức Hàn lâm thị thư Triều Lê, được các triều đại bao phong là Trung Liệt Đại Vương. Phối thờ cùng với ngài là 6 vị thần miếu và bà Đỗ Thị Huấn (một người con gái của địa phương. Bà là cung phi của chúa Trịnh triều Lê). Phủ Phan Xá nằm về phía Đông của đình, có kiến trúc hình chữ Đinh gồm tiền tế và hậu cung. Các hạng mục công trình đều mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Tại cụm di tích còn lưu giữ được một số hiện vật có giá trị như: bát hương sứ thời Lê, Chuông đồng... Đình Chùa, phủ Phan Xá tọa lạc gần nhau tạo thành một quần thể di tích có giá trị. Nơi đây trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong thôn. Đồng thời nơi đây cũng góp phần giáo dục truyền thống, tinh thần yêu nước của nhân dân và là nơi giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Đình thôn Hạ Cát thờ 3 vị Đại Vương gồm: Bạch Lang Đại Vương, Đương Lâu Đại Vương và Quý Hiển Đại Vương. Tương truyền ba vị đã thiết lập đồn doanh ở Hạ Cát, Cát Dương để luyện quân, luyện tướng. Hồi ấy Lý Bôn khởi nghĩa chống quân Lương, cả ba ông đem quân đến quy phục và giúp Lý Bôn đánh thắng quân Lương. Lý Bôn lên ngôi vua, đổi quốc hiệu là Vạn Xuân tự xưng hiệu là Lý Nam Đế. Lý Bôn phong Bạch Lang làm chức Trưởng ấn nội các, phong Đương Lâu làm Đông Các học sĩ, phong Quý Hiển làm Tây Các quan...

Ngày sinh ba vị Đại Vương là ngày 10 tháng 3. Lễ vật thường dùng trâu bò, xôi rượu. Ngày hóa của ba vị là ngày 15 tháng 4. Rước thánh giá từ lăng về đến vọng cung làm tế lễ. Ngày 10- 11 là ngày phong sắc Thần Hoàng cho ba vị Đại vương.

Căn cứ vào lịch sử Thần hoàng thỡ ba vị Đại vương ở thôn Hạ Cát, Cát Dương giúp Lý Bụn dẹp tan giặc Lương. Sau đó Lý Bụn ở thời Tiền Lý Nam Đế khoảng năm 544 sau cụng nguyờn (2010- 544) khoảng gần 1500 năm; vậy cư dõn Hạ Cỏt, Cát Dương núi riờng và cỏc thụn trong xó cú thể hỡnh thành từ trờn dưới 1000 năm trước đó, cộng với 1500 năm từ thời Tiền Lý- là từ 2000 đến 2500 năm.

Đình Tống Xá thờ đức thánh Hộ Hương. Tương truyền, Ngài là một người học rộng tài cao, thời nhà Lý trong một khoa thi, Ngài đã đỗ Tiến sĩ đệ tam giáp. Sau khi thắng trận Sơn Đạo, Ngài đã được phong Tể tướng quân. Đến Triều Lê, Ngài được tặng sắc phong Thượng thượng Đẳng Phúc, Thần Vạn Đại vương. Khi nhận chức ra về, đến làng La Xá huyện Phù Dung tỉnh Hưng Yên thấy phong cảnh nơi đây yên bình, đẹp đẽ, Ngài đã chọn để lập đồn đóng quân. Sau đó, ngài đi chiêu tập binh mã các nơi trong vùng. Nơi đâu dân chúng cũng quyết tâm theo Ngài. Đến khi Ngài sắp ra quân, đêm hôm trước Đức Thánh Miếu Đông báo mộng: xin tướng quân, Ngài không nên đi. Nhưng sáng hôm sau, Ngài vẫn cứ đem quân đi đánh, quả nhiên bị thất trận. Khi Ngài về đến đồn đóng quân thấy binh lính tan hoang; uất ức quá, đêm ấy Ngài đã thác (12 tháng 8). Đến khi dân làng biết, thì nơi thi hài của Ngài, mối đã chấp lên một đống to. Nhân dân vô cùng thương tiếc Ngài và lập đền thờ. Sau thời kỳ ấy làng La Xá đổi tên thành làng Tống Xá huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.

Đình thôn Cát Dương thờ Tam Vị Đại Vương: Bạch Lang Đại Vương, Đương Lâu Đại Vương và Quý Hiển Đại Vương là những người đó thiết lập đồn doanh tại Cát Dương, Hạ Cát để luyện quân góp sức đánh giặc Lương, khi thắng trận trở về được vua Triệu Việt Vương phong chức.

Đến đời vua Thành Thái- Khải Định lại truy phong sắc Thần Hoàng cho 3 ụng, được ông cha ta lưu giữ sắc phong đến ngày nay và tổ chức lễ hội hàng năm.

Xã có một nhà thờ, nằm ở xóm Trại Mụa thôn Vũ Xá, hiện tại với 15 hộ dân theo đạo. Nhà thờ bắt đầu được xây dựng từ năm 1920, khi đã có giáo dân ở các nơi đến đây lập trại, để làm nơi giáo dân đi chầu lễ. Đến năm 1935 việc xây dựng nhà thờ hoàn thành. Năm 1946 do bị mục nát, nên giáo dân đại tu phần mái bằng gỗ lim thay gỗ tạp. Từ hòa bình lập lại cho đến năm 1994 giáo dân tu sửa nhiều lần kể cả nội thất và ngoại hình, xây cả tường bao quanh.

Năm 2002 xây tháp chuông. Hiện tại nhà thờ là nơi giáo dân đi chầu lễ và là nơi tổ chức các hoạt động tôn giáo vào dịp lễ giáng sinh...

Với truyền thống hiếu học của nhân dân, từ xa xưa, xã Tống Phan đã có những người đỗ đạt cao. Cụ Trần Văn, người làng Phan Xá huyện Phù Hoa (Phù Cừ ngày nay) đậu Bảng nhãn vào năm Canh Tuất (1550) làm quan trong triều nhà Mạc[3].

Từ khi hình thành làng xã đến trước năm 1930, người dân Tống Phan đã trải qua biết bao thế kỷ đấu tranh vật lộn với thiên nhiên hà khắc, với kẻ thù độc ác và tàn bạo, với bọn vua quan kỳ hào tham nhũng để giành miếng cơm, manh áo, duy trì cuộc sống con người có nhân, có nghĩa, trọn vẹn thủy chung, tình làng nghĩa xóm. Sự liên kết cộng đồng giai cấp cùng với đức tính cần cù nhẫn nại, anh dũng kiên cường của ông cha ta đã làm cho con người trở nên hiên ngang bất khuất, sống nhân nghĩa thủy chung, yêu thương đùm bọc giúp đỡ nhau để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp và có ý nghĩa hơn.                        

Ngày 3-2-1930 Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, đánh dấu một thời kỳ mới, thời kỳ Đảng cộng sản- đội tiên phong của giai cấp công nhân trực tiếp lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ đế quốc Pháp, giành độc lập và xóa bỏ chế độ phong kiến bóc lột.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã liên tiếp vận động quần chúng đấu tranh từng bước như: Cuộc vận động Xô Viết- Nghệ Tĩnh; Cuộc đấu tranh dân chủ những năm 1936- 1939 và nhiều cuộc tuyên truyền rải truyền đơn, treo cờ nhằm chống áp bức, bóc lột và sưu cao thuế nặng của thực dân đối với những người lao động. Nhưng những phong trào này đều bị bọn đế quốc khủng bố gắt gao.

Từ cuối năm 1939, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp. Phái phản động ở Pháp lên cầm quyền và thi hành một số chính sách phát xít hóa ở trong nước và thuộc địa. Ngày 4-9-1939, toàn quyền Đông Dương ra lệnh cấm mọi hoạt động trực tiếp hay gián tiếp lưu hành hoặc tàng trữ mọi tài liệu, truyền đơn, sách báo của cộng sản, giải tán các nghiệp đoàn và ra lệnh đóng cửa trụ sở in phát hành báo cách mạng. Mọi hoạt động đòi tự do dân chủ, cơm áo và hòa bình coi như là bất hợp pháp.

Trước tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ VI, tháng 11-1939 họp tại Bà Điểm (Hoóc Môn- Gia Định) đã nhận định: Lúc này giải phóng dân tộc khỏi áp bức đế quốc dù Pháp hay Nhật trở thành nhiệm vụ cấp bách nhất, là mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt.

Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay Mặt trận Dân chủ. Về phương pháp cách mạng, chuyển từ đấu tranh hợp pháp sang hoạt động bí mật. Mục tiêu đấu tranh, từ đòi quyền dân sinh, dân chủ chuyển sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền thực dân phong kiến phản động.

Trước sự phát triển của phong trào cách mạng, ở Phù Cừ đòi hỏi phải có tổ chức Đảng đề trực tiếp lãnh đạo. Dưới sự lãnh đạo của xứ ủy Bắc kỳ và được sự giúp đỡ của tổ chức đảng Thái Bình, đầu tháng 2-1940, chi bộ Quế Ải  được thành lập. Đây là chi bộ đầu tiên của huyện Phù Cừ gồm 3 đồng chí: Lý Anh, Đinh Trọng Phương, Nguyễn Đức Vũ.

Sự kiện ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của huyện là mốc son lịch sử phong trào cách mạng ở huyện Phù Cừ. Có Chi bộ Đảng trực tiếp lãnh đạo, nhân dân Tống Phan cũng như các nơi trong huyện có phương hướng niềm tin để vươn lên tranh đấu.

Ở Tống Phan, đến giữa năm 1943, cơ sở cách mạng được gieo mầm, bén rễ về tới xã và từng thôn xóm. Cụ Nguyễn Năng Tỉnh và Cụ Chúc Rối (Cát Dương) là cơ sở bắt liên lạc đầu tiên của cán bộ Đảng cộng sản. Các cụ Trần Thị Túy, Nguyễn Thị Tìm là những phụ nữ sớm giác ngộ và có tinh thần yêu nước, được cán bộ Đảng tin cậy, vừa là những người bảo vệ, vừa là hạt nhân trong việc tuyên truyền giác ngộ người dân trong xã.

Dưới sự chỉ đạo của cán bộ Đảng, những thành viên tích cực đã hăng hái xây dựng các phong trào. Xã đã có tổ chức Việt Minh, thanh niên cứu quốc, nông dân cứu quốc. Chị em phụ nữ kiên quyết giữ bí mật, bảo vệ an toàn cho cán bộ đi về hoạt động, quyên góp vật chất để nuôi dưỡng cán bộ đảng viên, thành lập Hội phụ nữ cứu quốc, chuẩn bị lực lượng mọi mặt, sẵn sàng tham gia cùng toàn dân giành lại chính quyền từ tay phát xít Nhật[4].

Từ đầu năm 1940, chi bộ Đảng đầu tiên ở huyện Phù Cừ được thành lập, nhưng với sự khủng bố gắt gao của địch, các đảng viên dần bị địch bắt và bị lộ bí mật phải chuyển đi nơi khác. Để tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng, ngày 15- 8- 1943 chi bộ Đảng Đại Duy- Đông Cáp (Đoàn Đào) là chi bộ thứ hai của huyện, cũng là chi bộ duy nhất khôi phục và phát triển phong trào cách mạng của huyện. Sự ra đời chi bộ thứ hai của huyện đã chấm dứt hậu quả nặng nề do địch khủng bố gây nên, mở ra trang sử mới cho sự nghiệp cách mạng ở Phù Cừ.

Từ giữa năm 1944, các đồng chí đảng viên trong chi bộ Phù Cừ đã vượt qua bao khó khăn vì kẻ thù vẫn thường xuyên theo dõi, để bắt mối gây cơ sở ở các nơi trong huyện. Đồng chí Lương Phần liên hệ với hương Sư Thưởng (Cát Dương) để khôi phục và phát triển phong trào cách mạng ở Tống Phan[5].

Vào cuối năm 1944, chi bộ Đảng Phù Cừ nhận được sự chỉ đạo của Ban Cán sự Hưng Yên về nhiệm vụ cần kíp thực hiện theo tinh thần chỉ thị của Tổng Bộ Việt Minh (7-5-1944). Song, với tinh thần thực tế ở địa phương, chi bộ Đảng hướng vào nhiệm vụ trọng tâm là tích cực tuyên truyền, vận động quần chúng ủng hộ Việt Minh, mở rộng các Hội cứu quốc trên địa bàn toàn huyện.

Trong lúc này, các đảng phái cũng ra sức tuyên truyền gây ảnh hưởng nhằm tranh thủ quần chúng về phía mình, song tuyệt đại đa số nhân dân tin vào Mặt trận Việt Minh, vì cương lĩnh của Mặt trận là rõ ràng: đánh Pháp, đuổi Nhật, xây dựng nước Việt Nam độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc.

Cuối năm 1944, sau khi được cấp trên giao nhiệm vụ, đồng chí Trần Nguyên Tường là Bí thư Đoàn thanh niên xã Cát Dương, kiêm chấp hành huyện đoàn phụ trách khu vực. Huyện đoàn lúc bấy giờ anh Phạm Lục và Hoàng Ái Liên đứng đầu. Trước tình hình nạn đói diễn ra, đồng chí Tường đã cùng các đồng chí: Quảng, Khế, Cải, Cát, Duy đến vận động những gia đình gọi là khá một chút bớt miếng cứu người bị đói. Đoàn thanh niên phân công nhau cứ mỗi sáng đến cổng từng nhà thu cơm nắm để đem đi phát chẩn cứu đói.

Ở Tống Phan, đầu năm 1945 xã đã thành lập tổ chức Việt Minh, do đồng chí Nguyễn Hữu Lượng (thôn Cát Dương) lãnh đạo phong trào. Các thôn đều có lực lượng tham gia. Thôn Cát Dương gồm các đồng chí: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Hữu Nghị, Nguyễn Hữu Ân. Thôn Hạ Cát gồm các đồng chí: Trần Nguyờn Tường, Trần văn  Khế. Thôn Phan Xá gồm đồng chí: Nguyễn Hữu Hoan...Những đồng chí này đã được giác ngộ cách mạng và sau này đều là cán bộ cốt cán của địa phương.

Phong trào đấu tranh của lực lượng Việt Minh trong xã phát triển mạnh, tập trung vào tuyên truyền phát động quần chúng có những hình thức đấu tranh phù hợp để chống cường quyền ở hương thôn. Một quá trình vận động cách mạng phù hợp với tình hình lúc bấy giờ, thu hút nhân dân đến với phong trào Việt Minh ngày càng đông.

Đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II bước vào giai đoạn cuối. Hồng quân Liên Xô đang tiến vào nước Đức, truy đuổi quân Phát Xít. Quân Nhật đang bị sa lầy trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Tại Việt, mâu thuẫn Nhật- Pháp trở lên gay gắt. Tất yếu xung đột sẽ xảy ra. Ngày 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp. Sự kiện trên đã tạo ra tình thế thuận lợi cho cách mạng nước ta. Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta.”

Trước những diễn biến tích cực đó, tác động đến tình hình cách mạng ở huyện Phù Cừ, nhất là khi nhận được tin Việt Minh khu Bãi Sậy đánh đồn Bần (12-3-1945) làm cho bọn quan lại ở huyện lỵ và hào lý các địa phương hoang mang, phát sinh mâu thuẫn.

Thực hiện chủ trương của chi bộ Đảng Phù Cừ: từ xã đến huyện phải thường xuyên tổ chức những cuộc nói chuyện, mít tinh và “diễn thuyết xung phong”, tuyên truyền Mặt Trận Việt Minh, vạch mặt kẻ thù, đấu tranh chống thuế, phá kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói; vận động nhân dân và mỗi hội viên cứu quốc sắm một thứ vũ khí, thành lập đội tự vệ, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền- xã Tống Phan thường xuyên tổ chức lực lượng (trong đó Việt Minh làm nòng cốt) đi tham gia các đợt “diễn thuyết xung phong” do Việt Minh huyện tổ chức tại chợ Từa và những nơi có đông người qua lại.

Thông qua những đợt tuyên truyền, uy tín của Việt Minh ngày một lên cao, kẻ thù ngày càng tỏ ra hoang mang, rệu rã. Nhân dân hăng hái gia nhập các tổ chức cứu quốc. Trong đó mạnh nhất là Hội thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc và Phụ nữ cứu quốc. Yêu cầu cấp thiết trong lúc này là phải xây dựng đội ngũ tự vệ trong các làng xã.

Sau khi huyện cử các đồng chí đi dự lớp quân sự ở Mạc Thượng (Hà) trở về, chi bộ Đảng Phù Cừ tổ chức liền 3 lớp huấn luyện cho cán bộ Việt Minh. Lớp thứ nhất có 30 hội viên học tại chùa Cát Dương, trong đó xã Tống Phan có năm người dự học. Tại các lớp học, ban ngày học chính trị và thảo luận, ban đêm ra các gò đống ngoài đồng tập quân sự. Học xong trở về, cả năm đồng chí đều là cán bộ Việt Minh ở 5 thôn, đảm nhiệm đội trưởng tự vệ ở các làng. Các đội tự vệ sắm vũ khí thô sơ gồm: gươm, côn, kiếm, gậy. Để có súng chuẩn bị khởi nghĩa, chi bộ Đảng huyện có chủ trương: vận động những người có đủ điều kiện ủng hộ và tịch thu số tiền của Nhật đang đong thóc trong dân để lấy tiền mua súng.

Khi cao trào kháng Nhật cứu nước đang dâng lên mạnh mẽ, ở Tống Phan cũng như ở các địa phương trong cả nước, nạn đói diễn ra ngày càng trầm trọng. Nạn đói lan rộng từ cuối năm 1944 tới tháng 5 năm 1945. Thời kỳ đầu bà con ta còn đào củ chuối, hái rau má nấu với cám để ăn, sau củ chuối hết, rau má hết xin không ai cho, khắp người sưng phù nằm gục tại chỗ cho đến chết.Trong khi đó đồng bào Nam Định, Thái Bình tràn sang ngày một đông, kiệt sức chết gục trên các ngả đường đi kiếm sống. Ở Tống Phan nhiều gia đình chết đói cả nhà như ông Sửu, ông Thứ (thôn Tống Xá). Có gia đình 7-8 người chết đói chỉ còn 1-2 người sống sót như gia đình ông Đăng, ụng Khánh, ụng Thuần, ụng Lễ (thôn Cát Dương)...

Tháng 3 chết đói đã đành, đến khi có lúa tháng 5 ăn vào lại nhiều người bị chết, có người chết vì bội thực, nhưng nhiều người chết vì bệnh dịch tả. Ở xã Tống Phan, số người chết đói, chết bệnh đầu năm 1945 lên tới 305 người.

Trong thời điểm khó khăn này, lực lượng Vịêt Minh và nhân dân các thôn trong xã thường gom những xác chết của những người tha phương cầu thực nằm tại địa bàn đem đi chôn cất.

Nạn đói năm Ất Dậu (1945) diễn ra khủng khiếp càng lộ rõ dã tâm xâm lược và chính sách phản động của bọn thực dân, phát xít; càng làm mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với giặc Nhật, Pháp lên cao. Đây là thời cơ đỉnh điểm để nhân dân vùng lên đấu tranh.

Việc cần kíp trong lúc này là phải đưa nhân dân vượt qua nạn đói, chi bộ Đảng Phù Cừ lãnh đạo lực lượng Việt Minh và nhân dân trong huyện chống Thuế. Cuộc đấu tranh có sức lan tỏa lớn ở một số xã phía bắc huyện, buộc Tri huyện phải chấp nhận cho nhân dân khất thuế. Tin thắng lợi từ cuộc đấu tranh chống thuế trong toàn huyện làm cho bọn hào lý các tổng- xã sợ hãi, kính phục Việt Minh. Ở thôn Cát Dương, chính quyền tay sai phải đến xin ý kiến Việt Minh về cách đói phó với cấp trên của chúng.

Tin chống thuế ở Phù Cừ lan rộng trong tỉnh, bọn Nhật ở Hưng Yên phải điều một trung đội lính Nhật tăng cường về Phù Cừ làm áp lực để lấy lại uy thế của chúng. Nhân cơ hội này, bọn thân Nhật ở huyện- tổng- xã ngóc đầu dậy, chống lại lực lượng Việt Minh. Tại Cát Dương và một số nơi khác trong huyện, chúng đưa lính Nhật về cùng bọn tay sai làm áp lực cho việc đốc thuế. Trước tình hình này, thôn Cát Dương khôn khéo đưa một số người ra tranh đấu với chúng, rồi khất thuế. Trước lý lẽ của nhân dân, bọn chúng không thu được gì và đành phải rút lui. Trước khi rút, chúng bắn mấy phát súng chỉ thiên để giương oai.

Từ bước khất thuế thắng lợi, phong trào đấu tranh của Mặt trận Việt Minh trong xã ngày càng mạnh hơn. Trước khi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đồng chí Lương Phần và đồng chí Vạn Quốc (cán bộ Việt Minh huyện) đã cùng với lực lượng Việt Minh của xã kêu gọi nhân dân các thôn tập trung mang quang gánh đi phá kho thóc của Nghị Tạo và Cả Khánh, lấy thóc phát cho dân nghèo. Lúc này nhân dân rất tin tưởng vào lực lượng Việt Minh. Các loại sách báo được tuyên truyền rộng rãi, nhất là báo “cờ giải phóng”, cơ quan ngôn luận của Mặt trận Việt Minh. Tổ đọc báo được hình thành tại nhà Binh Nhượng, cụ Chi Cát (thôn Hạ Cát).. Hội “Bát âm” cũng được thành lập và có một số người tham gia như: ông Thát, ông Khiết, ông Hội và ông Lợi.

Tổ chức Việt Minh của xã ban ngày thì bí mật tuyên truyền, vận động nhân dân chống sưu, thuế, tô của địa chủ phong kiến; ban đêm thì luyện võ, tập quân sự ở chùa Xối (Cát Dương). Ngôi chùa này do sư Tĩnh chủ trì. Trước khi giành chính quyền, tổ chức Việt Minh cùng nhân dân đã vùng lên đấu tranh bắt và giết tên Lý Kh... ở thôn Cát Dương, tịch thu tài sản, chia cho dân nghèo.

Gần đến ngày khởi nghĩa, Việt Minh ở các thôn đều bí mật chuẩn bị vũ khí như rèn dao, mã tấu, kiếm để sẵn sàng tham gia khởi nghĩa.

Những ngày đầu tháng 8 năm 1945, khí thế khởi nghĩa, giành chính quyền ở huyện Phù Cừ trở lên sôi sục.

Để chuẩn bị khởi nghĩa, chi bộ Đảng của huyện thông qua hai hội viên cứu quốc: ông Vạn Quốc và ông Nguyễn Hữu Nghị (người Cát Dương) nắm chắc tình hình địch tại huyện đường. Sau khi điều tra thực tế, hai ông cho biết: lính Nhật đã chuyển về Hưng Yên, ở huyện đường chỉ còn khoảng gần 60 lính cơ. Mặt khác chúng mới chuyển về huyện đường trên 20 vạn đồng (tiền Đông Dương) để tiếp tục thu mua vét thóc trong dân.

Trước tình hình đó, chi bộ Đảng huyện có chủ trương: đây là thời cơ có một không hai để khởi nghĩa, cướp chính quyền.

Ngày 9-8-1945 Hồng Quân Liên Xô đánh vào Mãn Châu như vũ bão, làm cho quân Nhật vô cùng nguy ngập, trên một triệu quân quan đông đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt.

Tình thế cách mạng trong nước cũng đang chuyển biến mau lẹ. Ngày 13-8-1945 Nhật đầu hàng Đồng Minh. Cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa ra lệnh khởi nghĩa.

Ngay tối ngày 13-8-1945, chi bộ Đảng huyện tổ chức hội nghị các lực lượng Việt Minh huyện để triển khai kế hoạch. Hội nghị quyết định thời điểm tấn công vào huyện đường là rạng sáng ngày 14-8-1945 (tức ngày 7-7 âm lịch). Tất cả các lực lượng được giao nhiệm vụ phải tích cực thực hiện và tuyệt đối giữ bí mật.

Theo nhiệm vụ được phân công, rạng sáng ngày 14-8-1945 lực lượng Việt Minh của xã Tống Phan cùng với lực lượng của huyện tấn công đánh chiếm huyện đường. Tổng số lực lượng có khoảng 50 người tham gia, trong đó đông nhất là tự vệ Cát Dương, do đồng chí Nguyễn Hữu Nghị và đồng chí Nguyễn Minh Châu chỉ huy và phụ trách công tác địch vận.

Cuộc đánh chiếm huyện đường diễn ra mau lẹ, ông Châu (người Cát Dương) kêu gọi binh lính địch ngừng nổ súng sẽ tha cho về. Lập tức súng nổ thưa dần, rồi ngừng hẳn. Bộ phận đánh vào trại lính do ông Nguyễn Hữu Nghị chỉ huy nhanh chóng chiếm lĩnh mục tiêu. Bọn địch, không kịp trở tay, nhiều tên nộp súng cho cách mạng rồi ra hàng. Một số tên quá hoảng loạn, chạy thục mạng. Ta thu được 32 súng trường và một số đạn dược. Một bộ phận khác xông vào huyện đường tịch thu đồng triện, phá két bạc, thu 12 vạn đồng (tiền Đông Dương).

Cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở huyện Phù Cừ giành thắng lợi. Ngày 14-8-1945 nhân dân trong xã đi dự mít tinh ở Đình Cao để thành lập Ủy ban giải phóng huyện. Đồng chí Lương Phần, thay mặt Mặt trận Việt Minh huyện tuyên bố xóa bỏ chính quyền thực dân- phong kiến từ huyện đến Tổng- xã và tuyên bố chính quyền về tay nhân dân; tuyên bố thành lập Ủy ban giải phóng huyện gồm các đồng chí: Lương Phần, Nguyễn Hữu Nghị và Vạn Quốc, đồng chí Lương Phần làm chủ tịch.

Sau khi giành chính quyền ở huyện, sáng ngày 15-8-1945 tại sân đình thôn Hạ Cát, dưới sự tập trung đông đảo của nhân dân, đồng chí Lương Phần đứng lên diễn thuyết, thông báo kết quả cướp chính quyền ở huyện và tuyên bố thành lập Ủy ban cách mạng lâm thời thôn Hạ Cát do ông Bùi Mạnh Lư làm Chủ tịch, vài ngày sau giao cho ông Bùi Phú Túc. Sau đó, các đoàn thể cứu quốc được thành lập. Đoàn thanh niên do ông Bùi Xuân Quảng phụ trách. Hội phụ nữ do bà Lê Thị Ngồi phụ trách. Đội tự vệ do ông Kiều Công Hỗ phụ trách. Bà Cộng, Bà Nhường phụ trách thiếu nhi và tuyên truyền.

Tại thôn Tống Xá, ta đã cử ông Thảnh và ông Dỵ đến gặp Lý Trưởng Tràng thu triện, sổ sách, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ và thành lập Ủy ban cách mạng lầm thời thôn do ông Lê Văn Trừ làm chủ tịch. Ban quân sự do ông Phụi phụ trách. Tổ tự vệ do ông Khải làm tổ trưởng; các ủy viên gồm: ông Kiển, ông Chạo và ông Thậm.

Đến ngày 25-8-1945, các thôn còn lại trong xã đều tổ chức mít tinh ở các đình làng, tịch thu triện bạ, sổ sách, tuyên bố xóa bỏ chế độ cũ và lập Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời (gọi tắt là ủy ban lâm thời).

Sau khi Ủy ban lâm thời được thành lập, các đoàn thể cứu quốc như Thanh niên, Phụ nữ, Nông dân, Thiếu niên và nhi đồng ở các làng cũng được tổ chức.

Các đoàn thể làm nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng, giáo dục giác ngộ hội viên làm theo nếp sống mới, luyện tập thể dục, học võ thuật và quân sự... phong trào dấy lên sôi nổi và rầm rộ.

Tuy vậy, trong quá trình tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, địa phương cũng còn những điểm yếu cần khắc phục như: có thôn trong xã không có đảng viên, phong trào toàn xã không đều; trình độ văn hóa, chính trị của một số đảng viên còn yếu nên hạn chế về công tác vận động quần chúng tham gia phong trào cách mạng[6].

Cách mạng Tháng Tám thành công đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử giải phóng con người. “Pháp chạy, Nhật đầu hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ để lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”[7].

0182-t-ng-phan-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:11 (external edit)