User Tools

Site Tools


31-t-ng-gi-o-ph-n-h-n-i-la-gi

Tổng Giáo phận Hà Nội (tiếng Latin: Archidioecesis Hanoiensis) [3] là một Tổng giáo phận Công giáo quản lý giáo dân vùng Hà Nội và một số tỉnh phụ cận [4]. Tổng diện tích cai quản của Tổng giáo phận Hà Nội xấp xỉ 7.000 km², bao gồm địa phận Hà Nội, Hà Nam, một phần các tỉnh Nam Định, Hưng Yên và Hoà Bình[1].

Hiện nay cai quản giáo phận là Hồng y - tổng giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (từ 2010) và Giám mục phụ tá Lôrensô Chu Văn Minh (từ 2008).

Giai đoạn 1659 đến 1679[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1659, đã có nhiều hoạt động truyền giáo trên lãnh thổ Đại Việt, chủ yếu do các giáo sĩ Dòng Tên thực hiện.

Ngày 9 tháng 7 năm 1659, Giáo hoàng Alexanđê VII phân chia vùng truyền giáo của Đại Việt thành 2 Hạt đại diện Tông tòa và giao cho 2 giám mục Hội Thừa sai Paris làm giám quản: Giáo phận Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào nam, bao gồm Cao Miên và Chiêm Thành), bổ nhiệm Giám mục hiệu tòa Bérythe Piere Lambert de la Motte làm Giám quản tông tòa; và Giáo phận Đàng Ngoài (từ sông Gianh trở ra bắc và miền nam Trung Hoa), giao cho Giám mục hiệu tòa Héliopolis Francois Pallu làm Giám quản tông tòa (9/9/1659-25/11/1679). Đây cũng là 2 giám mục tiên khởi của Việt Nam.

Giai đoạn 1679 đến 1845[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1678, Giáo hoàng Innôcentê XI tôn phong Thánh Giuse làm Thánh Bảo trợ Việt Nam và các nước lân cận.

Ngày 24 tháng 7 năm 1679, Tòa Thánh Rôma cho tách Giáo phận Đàng Ngoài thành hai giáo phận mới, lấy sông Hồng làm ranh giới, là Giáo phận Đông Đàng Ngoài (từ sông Hồng đến các tỉnh ven biển), trao cho Giám mục François Deydier (tên Việt là Phan), Dòng thừa sai, cai quản; và Giáo phận Tây Đàng Ngoài (từ sông Hồng đến biên giới Ai Lao), đặt dưới sự cai quản của Giám mục Jacques de Bourges (Dòng thừa sai) giai đoạn 25/11/1679-9/8/1714.

Giám mục Edme Bélot thay thế cho ngài Jacques de Bourges từ 9/8/1714 [1] đến 2/1/1717. Tiếp đến giám mục François-Gabriel Guisain

Giai đoạn 1846 đến 1894[sửa | sửa mã nguồn]

Các linh mục công giáo Bắc Kỳ thế kỷ XIX

Ngày 17 tháng 3 năm 1846, Giáo hoàng Grêgôriô XVI đã tách các giáo khu thuộc Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và một phần Quảng Bình, của Giáo phận Tây Đàng Ngoài để thành lập Giáo phận Bắc Đàng Ngoài và giao cho Giám mục Jean Denis Gauthier [5] (tên Việt là Ngô Gia Hậu) cai quản.

Giai đoạn 1895 đến 1900[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 4 năm 1895, Giáo hoàng Lêô XIII đã tách các giáo khu thuộc Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang của Giáo phận Tây Đàng Ngoài để thành lập Giáo phận Đoài, còn gọi là Giáo phận Tông toà Thượng du Bắc Kỳ (Tonkin Supérieur), và giao cho Giám mục Paul Marie Raymond [6] (tên Việt là Lộc), Dòng thừa sai, cai quản.

Giai đoạn 1901 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn hoa Hàng Trống, 42 Nhà Chung bên cạnh Tòa Tổng Giám mục Hà Nội

Ngày 15 tháng 4 năm 1901, Tòa Thánh tách các giáo khu thuộc Thanh Hóa và Ninh Bình của Giáo phận Tây Đàng Ngoài để thành lập Giáo phận Thanh, giao cho Giám mục Jean Pierre Marcou [7] (tên Việt là Thành), Dòng thừa sai, cai quản.

Ngày 3 tháng 12 năm 1924, Giáo hoàng Piô XI đã cho đổi tên một loạt các giáo phận tại Việt Nam theo địa bàn hành chính nơi đặt toà giám mục. Theo đó, Giáo phận Tây Đàng Ngoài đổi tên thành Giáo phận Hà Nội.

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Giáo hoàng Gioan XXIII cho thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam và chính thức nâng Giáo phận tông tòa Hà Nội lên hàng Tổng Giáo phận chính tòa.

Các địa danh trong tổng giáo phận[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ chính tòa và Tòa Tổng giám mục Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh địa hành hương[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhà thờ và tu viện lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Các đời giám mục ở giáo phận Hà Nội qua các thời kỳ được liệt kê [8] như sau:

Ghi chú:

  • Hồng y.png: Hồng y
  • Tổng giám mục.png: Tổng giám mục (phó)
  • Giám mục phụ tá.png: Giám mục phụ tá, Giám quản tông toà, Giám mục chính tòa
31-t-ng-gi-o-ph-n-h-n-i-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:12 (external edit)