User Tools

Site Tools


31-th-ch-n-la-gi

Xã Thạch Đạn: nơi cộng cư, đan xen của hai dân tộc Tày, Nùng[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt địa lý xã Thạch Đạn nằm ở vị trí: 21045’ đến 220 vĩ Bắc và 106039’ kinh Đông (Địa chí Lạng Sơn 1999: 809). Diện tích tự nhiên của xã là: 3.623,42 ha. Xã Thạch Đạn: phía Bắc giáp xã Bảo Lâm; phía Nam giáp xã Hợp Thành và xã Hòa Cư; phía Đông giáp xã Thanh Lòa và xã Lộc Yên; phía Tây giáp xã Thụy Hùng và xã Hoàng Đồng [77, 2]. Xã có 8 thôn gồm: Bản Cưởm; Còn Quyền; Bản Đẩy; Nà Mon; Nà Lẹng; Bản Roọc; Nà Sla; Khuôn Cuổng. 8 thôn chia làm 22 bản: Cốc Slé; Mu Ngạp; Còn Quyền; Bản Tàn; Bản Cưởm; Bản Đẩy; Bản Áng; Nà Vá; Nà Ca; Nà Mon; Bản Phường; Thông Cùm; Nà Lẹng, Bản Mạc; Trang Khuổi; Nà Dài; Bản Roọc; Nà Nhàn; Nà Pao; Khuôn Cuổng; Nà Sla; Nà Khưa [77, 2].

Ngược dòng lịch sử, trong bản đồ châu Thoát Lãng thời Đồng Khánh (1886 1888) xã Thạch Đạn có tên gọi là Thạch Bi, phía Đông xã giáp với châu Lộc Bình phủ Trùng Khánh, phía Tây xã giáp với tổng Uyên Cốt châu Văn Uyên, phía Tây Nam xã giáp với tổng Vĩnh Dật châu Văn Uyên, phía Nam xã giáp với xã Hoàng Đồng, phía Bắc xã giáp với tổng Trừ Trĩ. Xã Thạch Đạn thuộc châu Thoát Lãng, từ đời Trần Hồ về trước Thoát Lãng có tên là châu Thoát Lạc, thời thuộc Minh gọi là huyện Thoát, tên Thoát Lãng có từ đầu triều Lê, nay châu Thoát Lãng thuộc huyện Văn Lãng (do Văn Uyên và Thoát Lãng hợp thành) tỉnh Lạng Sơn. Châu Thoát Lãng phía Nam giáp giới châu Văn Uyên, phía Bắc giáp huyện Thất Khê và châu Văn Uyên, phía Đông giáp châu Lộc Bình, phía Tây giáp huyện Thất Khê (Hoàng Giáp - Hoàng Páo 2012: 41).

Theo sử cũ chép lại xã Thạch Đạn thuộc tổng Trừ Trĩ, tổng có 10 xã, phố, trại: xã Trừ Trì, xã Hoàng Đồng, xã Vĩnh Trại, xã Thạch Đạn, xã Hòa Cư, trại Khôn Lại, trại Cốc Chấn, phố Khâu Lư (Kỳ Lừa), phố Nam Nhai, phố Vị. Riêng tổng Trừ Trĩ ở xen vào các tổng Vĩnh Dật, Uyên Lệ (Cốt), Hành Lư của châu Văn Uyên (Hoàng Giáp - Hoàng Páo 2012: 42).

Trải qua thăng trầm lịch sử tên gọi xã Thạch Đạn cũng đã nhiều lần thay đổi, năm 1982, xã Thạch Đạn sáp nhập với xã Bảo Lâm thành xã Thạch Lâm, tên gọi Thạch Lâm là tên ghép của hai xã Thạch Đạn và Bảo Lâm. Đến năm 1985, xã Thạch Lâm lại tách ra thành 2 xã là Thạch Đạn và Bảo Lâm.

Sở dĩ năm 1982, hai xã nhập vào nhau là để tinh giảm biên chế nhưng sau khi tách việc quản lý rất khó khăn do địa bàn xã rất rộng nên đến năm 1985, xã Thạch Lâm lại tách ra thành 2 xã như ban đầu [Lý Cảnh Xuân, dân tộc Nùng, sinh năm 1930, bản Nà Sla, tháng 04/2016; Chu Cảnh Thu, dân tộc Nùng, sinh năm 1943, bản Nà Sla, tháng 04/2016].

Trung tâm xã Thạch Đạn cách đường biên giới Việt Nam – Trung Quốc 15 km, trong lịch sử mảnh đất Thạch Đạn đã nhiều lần trở thành bãi chiến trường trong các cuộc giao tranh giữa hai đất nước. Xã Thạch Đạn ở phía Đông Bắc huyện Cao Lộc và cách trung tâm huyện Cao Lộc 8 km, cách trung tâm tâm thành phố 10 km. Con đường từ trung tâm huyện Cao Lộc vào xã Thạch Đạn bị chia cắt bởi những dốc núi, cao nhất là dốc Kéo Phầy. Trước đây khi chưa xây dựng đường thì người dân đi lại rất vất vả, từ năm 2008 con đường được mở rộng thì việc đi lại mới thuận lợi hơn.

2. Dân cư xã Thạch Đạn[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 03 năm 2016, xã Thạch Đạn có 674 hộ với 2.921 nhân khẩu. Trong đó dân tộc Nùng chiếm 74,7%, dân tộc Tày chiếm 25,1%, dân tộc Kinh chiếm 0,2% [80, 1]. Người Nùng ở xã Thạch Đạn có hai nhóm: Nùng Phàn Slình và Nùng Cháo. Hai dân tộc tày, Nùng đã có quá trình cộng cư từ lâu đời và tạo nên một nền văn hóa Tày, Nùng rất đa dạng và phong phú.

Trong quá trình khảo sát tại địa bàn chúng tôi được biết vào khoảng cuối những năm 80 đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều người dân di chuyển vào Tây Nguyên xây dựng kinh tế mới. Theo tác giả Lương Đình Dung, “từ mấy năm nay, tình hình dân cư trong một số dân tộc, trên địa bàn tương đối rộng, đã diễn ra những biến động mạnh. Nổi bật là trong các dân tộc: Tày, Nùng và đặc biệt là H’mông. Hiện nay có khá đông đồng bào các dân tộc Tày, Nùng đã di chuyển vào Nam. Đến cư trú ở các tỉnh Tây Nguyên...” [11, 85].

Trước đây, thời bà còn thanh niên bản mình nhiều người đông vui lắm.Mùa hè cứ buổi tối thanh niên nam nữ tụ tập ra cầu Pai Phường nói chuyện với bản Thông Cùm vui lắm. Mùa xuân con trai tập múa sư tử, con gái đi hát sli... cả làng nhộn nhịp. Nhiều lần bà lên đỉnh núi Deng nhìn xuống bản thấy nhà cửa san sát, gà vịt kêu ầm ầm, không khí bản còn rất đông vui. Nhưng từ khi mọi người đi Nam sống (vào Tây Nguyên làm kinh tế mới), bản còn thưa thớt, người ta đi nhiều lắm, phải gần 1/3 bản đấy.Từ khi họ đi đến nay đã hai ba chục năm mà bản còn vẫn chưa đông bằng ngày xưa đâu [Lý Thị Nà, dân tộc Nùng, sinh 1947, bản Nà Lẹng, tháng 3/2016].

Trước đây khi chưa có luật kế hoạch hóa gia đình người dân xã Thạch Đạn mỗi gia đình sinh từ 3 - bốn con trở lên, nhiều gia đình sinh chín con như nhà ông Thồ, bản Nà Lẹng. Nhưng từ khi có luật kế hoạch hóa gia đình người dân nơi đây chấp hành khá nghiêm túc, nhưng vẫn có những gia đình sinh nhiều hơn hai con do họ sinh con một bề nên muốn có con trai để nối dõi tông đường hoặc muốn sinh con gái để đỡ đần bố mẹ lúc ốm đau.

Do địa bàn xã cách trung tâm huyện Cao Lộc không quá xa nên người dân nơi đây từ lâu đã chịu sự tác động mạnh mẽ của nhịp sống hiện đại, nhất là người trẻ. Mặc dù chịu sự tác động mạnh mẽ của những luồng văn hóa ngoại lai nhưng người dân xã Thạch Đạn vẫn giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Một trong số đó là tình đoàn kết xóm làng, mối quan hệ tương trợ trong nghi lễ vòng đời... đây chính là nhân tố quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng.

3. Hoạt động kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thạch Đạn là một xã thuần nông nghiệp, ngoài trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả thì người dân nơi đây không có nghề phụ.

Xã Thạch Đạn ngoài làm nông thì không có nghề phụ, những sản phẩm như đan lát thúng mủng, dần, sàng, lồng gà, lồng vịt... chủ yếu được bà con làm theo dạng tự cung tự cấp chứ không đem buôn bán [Lăng Khau Bó, dân tộc Nùng, sinh năm 1982, bản Nà Lẹng, tháng 3/2016].

Tất cả các hộ dân ở xã Thạch Đạn đều sống nhờ vào đồng ruộng, trong vài năm trở lại đây có một vài gia đình đầu tư buôn bán hộ gia đình, tuy nhiên tất cả đều ở dạng tự phát, quy mô nhỏ và không có tính lâu dài.Theo số liệu thống kê của ủy ban nhân dân xã Thạch Đạn thì năm 2014, tổng diện tích gieo trồng cả năm của xã là 496,1ha với tổng sản lượng lương thực thu được là 1.254,1 tấn. Một năm người dân gieo trồng hai vụ lúa: vụ xuân và vụ mùa.

Ngoài trồng lúa người dân xã Thạch Đạn còn trồng thêm rau, đậu, sắn, khoai lang, khoai tây, ngô, khoai môn, cây ăn quả... để phục vụ chăn nuôi hoặc bán nhằm tăng thêm thu nhập cho gia đình.

Lợn là loại gia súc được người dân xã Thạch Đạn nuôi từ lâu, trước đây khi điều kiện buôn bán chưa phát triển thì người ta chủ yếu nuôi lợn để phục vụ đời sống hằng ngày và trao đổi lẫn nhau. Nhưng hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, lợn nuôi chủ yếu để bán, theo số liệu thống kê của ủy ban nhân dân xã Thạch Đạn năm 2014 xã có tổng đàn lợn là 2048 con. Gia cầm cũng được người dân chú trọng phát triển, không như lợn gia cầm chủ yếu được nuôi để phục vụ đời sống hằng ngày. Theo số liệu của ủy ban xã thì năm 2014 toàn xã có tổng số 14.187 con (UBND xã Thạch Đạn 2011: 3). Trước đây người dân trong xã nuôi nhiều trâu nhưng hiện nay số lượng trâu của xã cũng ngày càng giảm. Tính đến năm 2014, số lượng trâu là 379 con, số lượng bò là 96 con.

Trước đây ruộng đồng khi hết mùa là không trồng gì, rừng chủ yếu là rừng tự nhiên chưa trồng cây nên bãi chăn thả rộng, thuận tiện cho việc chăn thả trâu, bò. Nhưng khoảng hơn chục năm nay ngoài hai vụ lúa nhiều nhà còn trồng thêm khoai tây, rau màu ở ruộng, rừng thì trồng thông hết nên bãi chăn thả trâu bò ngày càng bị thu hẹp. Việc chăn trâu ngày càng khó, thời ông còn trẻ cứ sáng thả trâu vào rừng rồi buổi chiều đi lùa về, còn bây giờ khi thả trâu phải đi theo cả ngày nên người ít người nuôi trâu, bò [Triệu Nà Mò, dân tộc Nùng, sinh năm 1968, bản Nà Lẹng, tháng 03/2015].

Theo lời kể của người dân thì ban đầu hợp tác xã được mọi người ủng hộ vì cách thức hoạt động của hợp tác xã phù hợp với hình thức đổi công của đồng bào nên hợp tác xã ở Thạch Đạn thành lập từ những năm 60 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, về sau hợp tác xã ngày càng hoạt động kém hiệu quả, nhất là từ sau khi hòa bình lập lại nên hợp tác xã đã giải thể vào năm 1983. Nguyên nhân của sự hoạt động không hiệu quả chính là do việc tổ chức sản xuất của người quản lý lãnh đạo kém, tình trạng đánh giá công việc theo hình thức chấm công gây nên những bất cập. Tên gọi là hợp tác nhưng trong hoạt động lại không có hợp tác trong công việc mà làm việc theo kiểu đổi công.

Hợp tác xã có từ những năm 60 rồi, lúc bà còn trẻ đi làm công cho hợp tác xã mới được 1,5 công. Nhưng lúc đấy thấy hơi bất công vì mặc dù còn trẻ nhưng mình làm được nhiều mà cũng không được chấm điểm theo người lớn. Người ta không chấm theo số lượng công việc làm được mà cứ chấm theo độ tuổi. Chính vì phương thức chấm công không công bằng như thế nên tạo ra sự bất công, người làm ít cũng như người làm nhiều đều được chấm điểm như nhau, nên hợp tác xã hoạt động ngày càng kém hiệu quả.Cuối cùng hợp tác xã giải thể vào năm 1983 [Lý Thị Nà, dân tộc Nùng, sinh năm 1947, bản Nà Lẹng, tháng 03/2016].

Lê là loại hoa quả nổi tiếng của xã Thạch Đạn, lê có nhiều loại như: lê Việt Nam, lê xanh, lê Trung Quốc (đồng bào lấy giống từ Trung Quốc nên gọi là lê Trung Quốc). Giống lê ở xã Thạch Đạn da mỏng, ăn ngọt và màu sắc đẹp. Tuy nhiên, khoảng chục năm trở lại đây sản lượng lê của xã sụt giảm đáng kể.

Khoảng chục năm trở lại đây sản lượng lê của xã ngày càng giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất, do khí hậu thay đổi thất thường nên trồng lê ngày càng khó; thứ hai, khi vào vụ giá lê bán rất rẻ (thường chỉ được từ 2.000 – 5.000 đồng/1kg) nên người dân phá bỏ để trồng cây khác; thứ ba, do cây lê ngày càng già nên sản lượng thu hoạch ngày càng giảm; thứ năm, mấy năm nay lê bị phá hoại ngày càng nhiều [Lăng Khau Bó, dân tộc Nùng, sinh năm 1982, bản Nà Lẹng, tháng 03/2016].

4. Đời sống văn hóa – xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Thạch Đạn là địa bàn cộng cư từ lâu của người Tày, Nùng. Người Tày, Nùng thờ cúng tổ tiên và chịu ảnh hưởng của những tôn giáo lớn như Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo. Người Nùng ở xã có hai nhóm: thứ nhất là Nùng Phàn Slình, nhóm này sống ở các bản Nà Sla, Nà Khưa, Khuôn Cuổng, Nà Lẹng, Thôn Cùm; thứ hai là Nùng Cháo, nhóm này sống ở các bản Nà Dài, Bản Roọc, Pò Chả, Nà Lẹng, Bản Mạc, Bản Phường, Nà Mon, Nà Ca, Nà Vá. Người Tày ở xã có hai nhóm: thứ nhất là người Tày vốn sống ở dọc biên giới Việt - Trung, nhóm này bao gồm các họ Nông, Lương, Lã...; thứ hai là người Tày gốc Kinh (Kinh già hóa Thổ), nhóm này vào Thạch Đạn cách ngày nay khoảng 225 năm. Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy họ Đinh ở xã Thạch Đạn có hai nhánh khác nhau, người dân thường phân biệt là Đinh mò và Đinh vài (Đinh Mò trong đám tang thường thịt bò, Đinh Vài trong đám tang thường thịt trâu).

Hồi còn nhỏ tôi hay đi chăn trâu cùng ông Thụy Loan và nghe ông kể về nguồn gốc dòng họ Đinh ở Bản Cưởm. Ông kể rằng đầu tiên đến bản Cưởm khai bản lập còn là ông Đinh Nghiêm Chỉ, quê ở Ninh Bình [Đinh Bản Cưởm, dân tộc Tày, sinh năm 1938, bản Cưởm, tháng 03/2016].

Về họ Đinh ở bản Đẩy, Nà Lẹng, Bản Áng thì ông Khoa cho biết hiện nay gia đình ông vẫn cầm cuốn gia phả.Trước đây ông Đinh Văn Hảo đã tìm đến tận Ninh Bình để nhận họ hàng.Theo như gia phả ghi lại thì họ Đinh gốc ở Ninh Bình, người đầu tiên lên Thạch Đạn lập nghiệp là ông Đinh Quế Liệu.Từ khi ông lên Thạch Đạn đến nay đã được 9 đời. Gia phả còn chép ông Đinh Quế Liệu là thầy đồ và dẫn theo ba con lên Lạng Sơn [Đinh Bản Đẩy, dân tộc Tày, sinh năm 1956, bản Đẩy, tháng 03/2016].

Với lịch sử cộng cư lâu đời nên ở xã Thạch Đạn có một nền văn hóa rất phong phú và đa dạng.Từ lâu người Tày, Nùng đã sống hòa nhập với nhau trong cả đời sống kinh tế - văn hóa xã hội. Những nghi lễ vòng đời như cưới xin, ma chay đều được cả hai dân tộc cùng chung tay thực hiện.

Từ lâu người dân xã Thạch Đạn đã không còn phân biệt dân tộc.Bản thân tôi là người Nùng cưới vợ là người Tày, tôi thấy trong sinh hoạt hằng ngày và sinh hoạt tín ngưỡng người Tày và người Nùng gần giống nhau nên không ảnh hưởng gì.Ví như hoạt động của tổ chức hàng phường trong đám tang, cả người Tày và người Nùng cùng nhau lo liệu công việc, vấn đề dân tộc chẳng ảnh hưởng gì [Triệu Khau Deng, dân tộc Nùng, sinh năm 1966, bản Nà Lẹng, tháng 3/2016].

Truyền thống tương trợ cộng đồng của người Tày, Nùng xã Thạch Đạn đã có từ lâu đời. Người dân thực hiện tương trợ trong các dịp như: sản xuất, làm nhà, sinh đẻ, cưới xin và nhất là tang ma. Việc tương trợ này được người dân quan niệm “có đi có lại” nghĩa là mình trợ giúp người ta để khi mình có việc người ta giúp lại.

Từ xưa rồi cứ vào ngày mùa người ta lại thực hiện đổi công. Khi làm nhà người ta giúp đỡ nhau. Khi trong bản có người sinh thì họ hàng, bạn bè thân thiết lại biếu gà, thịt. Khi có đám cưới cả bản đến chung vui và trợ giúp cho đám cưới. Khi có đám tang cả bản có trách nhiệm tham gia giúp đỡ dưới danh nghĩa hàng phường. Việc tương trợ ngoài biểu hiện bằng vật chất và công sức còn được thể hiện qua những lời chúc, những câu dân ca mừng như sli mừng nhà mới, sli mừng hạnh phúc, sli chúc thọ... [Triệu Khau Deng, dân tộc Nùng, sinh năm 1966, bản Nà Lẹng, tháng 3/2016].

Các tên người được trích dẫn trong bài chỉ là biệt danh.

Để biết thêm thông tin, xin liên hệ với tác giả qua email: [email protected]

Tác giả: Lý Viết Trường

  1. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên MS
  1. Hoàng Giáp – Hoàng Páo (2012), Văn hóa Lạng Sơn: địa dư chí – văn bia – câu đối, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin.
  2. Lý Viết Trường (2015), “Tục lấy nước tết nguyên đán của người Tày, Nùng Lạng Sơn”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 368 (02/2015), tr.13 – 15.
  3. Lý Viết Trường (2016), Tổ chức hàng phường: một hình thức tương trợ cộng đồng trong tang ma của người Tày, Nùng, Khoa luận Tốt nghiệp Đại học, Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, H.
  4. UBND tỉnh Lạng Sơn (1999), Địa chí Lạng Sơn, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, H.
  5. UBND tỉnh Lạng Sơn (2015), Tài liệu hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện quyết định 308/2005/QĐ-TTg về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, Lạng Sơn.
  6. UBND tỉnh Cao Bằng (2000), Địa chí Cao Bằng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, H.
  7. UBND xã Thạch Đạn (2011), Đề án: xây dựng nông thôn mới xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 – 2020, Thạch Đạn.
  8. UBND xã Thạch Đạn (2014a), Báo Cáo: kết quả thực hiện phong trào “toàn dân đoàn kết xâu dựng đời sống văn hóa” năm 2014, Thạch Đạn.
  9. UBND xã Thạch Đạn (2014b), Báo cáo: tình hình kết quả thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh năm 2014, phương hướng nhiệm vụ năm 2015, Thạch Đạn.
31-th-ch-n-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:12 (external edit)