User Tools

Site Tools


31-tr-n-bir-hakeim-la-gi

Bir Hakeim (thỉnh thoảng cũng viết là Bir Hacheim) là một bán đảo hẻo lánh trên sa mạc Libya, ngày xưa có một đồn lũy của người Thổ Nhĩ Kỳ. Trong trận Gazala, Sư đoàn Pháp tự do số 1 dưới quyền Chuẩn tướng (Général de brigade) Marie Pierre Kœnig đã phòng vệ khu vực ngày từ ngày 26 tháng 5 cho đến ngày 11 tháng 6 năm 1942 trước cuộc tấn công của liên quân phát xít Đức - Ý do Đại tướng (Generaloberst) Erwin Rommel chỉ huy, kết thúc với thắng lợi của quân khối Trục[4]. Chiến đấu với quân đội phát xít đông hơn hẳn trong suốt 16 ngày trời, Kœnig và các binh sĩ của ông đã lập nên một chiến tích lớn. Sau này, trận đánh được mọi phe tham chiến tích cực đưa vào những mục đích tuyên truyền, khiến cho sự thực trận này trở nên mập mờ. Cuộc chiến đấu ngoan cường của quân Pháp tự do đã khiến cho quân Anh rút lui có trật tự.[5] 10 ngày sau khi đánh bại quân Pháp tự do ở trận Bir Hakeim, quân của Rommel đã chiếm được Tobruk - đánh dấu đại thắng đầu tiên của nền Đệ tam Đế chế Đức trong năm 1942.[6][7][8][9] Rommel tiếp tục vượt qua những hoạt động cầm chân của quân Anh cho tới khi bị chặn đứng trong trận El Alamein lần thứ nhất vào tháng 7.

Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 10 năm 1991, Tướng Bernard Saint-Hillier cho biết: "Một hạt cát đã kìm hãm bước tiến của quân khối Trục, họ chỉ tới được Al-Alamein sau khi các Sư đoàn Anh còn lại kéo đến: hạt cát ấy là Bir Hakeim."[10]

Ghi chú
  1. ^ Exact number unknown. The box was under attack by the Ariete Division in the first phase of the Gazala battle, and later under attack by a combined force of the Trieste and 90th Light Infantry Division[1]
Chú giải
  1. ^ Ford, pp. 53-54; 42.
  2. ^ The Second World War: Europe and the Mediterranean, Thomas B. Buell, John N. Bradley, Thomas E. Griess, Jack W. Dice, John H. Bradley, Square One Publishers, Inc., 2002, p. 169
  3. ^ Ford, p. 64.
  4. ^ S. L. Mayer, World War II, trang 64
  5. ^ Pierre Goubert, The Course of French History Rommel, trang 299
  6. ^ Der Mythos des Gaullismus: Heldenkult, Geschichtspolitik und Ideologie 1940 bis 1958, Matthias Waechter, Wallstein Verlag, 2006
  7. ^ Schlachtenmythen: Ereignis, Erzählung, Erinnerung, Susanne Brandt, p. 170
  8. ^ David Stone, Hitler's Army: The Men, Machines, and Organization: 1939-1945, trang 238
  9. ^ Patrick Jennings, Pictorial history of World War II , trang 61
  10. ^ (French) Histoire de la France militaire et résistante, Volume 1, Dominique Lormier, Rocher, 2000
  • Jean-Louis Crémieux-Brilhac, La France Libre, NRF, Paris, 1996.
  • Erwan Bergot, La Légion au combat, Narvik, Bir-Hakeim, Dièn Bièn Phu, Presses de la Cité, 1975
  • Bimberg, Edward L. (2002), Tricolor Over the Sahara, Greenwood Publishing Group, ISBN 978-0-313-31654-8 
  • S. L. Mayer, World War II, Bookthrift Company, 01-08-1984. ISBN 0-671-06810-5.
  • Pierre Goubert, The Course of French History, Routledge, 20-11-1991. ISBN 0-415-06671-9.
  • David Stone, Hitler's Army: The Men, Machines, and Organization: 1939-1945, MBI Publishing Company, 20-09-2009. ISBN 0-7603-3750-0.
  • Buffetaut, Yves. La guerre du desert II: Bir-Hakeim. Armes Militaria Magazine HS 06. Paris, 1992
  • Ford, Ken. Gazala 1942: Rommel's greatest victory. Osprey Publishing. Oxford, 2008 ISBN 978-1-84603-264-6
  • Général Kœnig, Bir Hakeim, Ed. Robert Laffont, Paris, 1971.
  • Dominique Lormier, Rommel: La fin d'un mythe, Ed. Le Cherche midi, Paris, 2003.
  • Pierre Messmer, La bataille de Bir Hakeim, Revue Espoir, Paris, September 1986.
  • Raphaël Onana, Un homme blindé à Bir-Hakeim, Ed. L'Harmattan.
  • Patrick Jennings, Pictorial history of World War II, Longmeadow Press, 1975. ISBN 0-904230-10-4.
  • Playfair, Major-General I.S.O.; with Flynn, Captain F.C. (R.N.); Molony, Brigadier C.J.C. & Gleave, Group Captain T.P. (2004) [1st. pub. HMSO:1960]. Butler, Sir James, biên tập. The Mediterranean and Middle East, Volume III: British Fortunes reach their Lowest Ebb (September 1941 to September 1942). History of the Second World War, United Kingdom Military Series. Uckfield, UK: Naval & Military Press. ISBN 1-84574-067-X. 
  • Field Marshal Rommel, Archives Rommel, Herrlingen-Blaustein.
  • Daniel Rondeau and Roger Stephane, Des hommes libres: La France Libre par ceux qui l'ont faite (Testimonies: Chapter 16, p. 243 and s.), Ed. Bernard Grasset, Paris, 1997.

Tọa độ: 31°35′37,93″B 23°28′47,16″Đ / 31,58333°B 23,46667°Đ / 31.58333; 23.46667

31-tr-n-bir-hakeim-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:12 (external edit)